Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Tâm trạng kém thường kéo dài nhiều ngày chứ không phải là vài tuần hoặc vài tháng nghiêm trọng lâu dài, đủ để ảnh hưởng tới hoạt động trong cuộc sống hoặc gây ra phiền toái đáng kể. Những tâm trạng như thế cũng có thể gây ra 1 giai đoạn trầm cảm nặng, có thể có khuynh hướng gắn liền ý nghĩ tự tử và mất khả năng tiếp nhân thức.

Nhận biết trẻ trầm cảm

Các biểu hiện căn bản của chứng rối loạn trầm cảm tại trẻ em và thanh thiếu niên như vậy như tại người to nhưng trẻ em có thể không giải thích được cảm xúc bên trong hoặc tâm trạng. Do vậy trầm cảm cần phải xem xét lúc những đứa trẻ học tập và hoạt động khác thường, kém đi so với trước đó; một số trẻ có rối loạn trầm cảm, tâm trạng nổi bật là khó chịu hay cáu gắt, bực bội, kích thích, gây hấn hơn là nỗi buồn (một sự khác biệt nhu yếu giữa tuổi thơ và người lớn). Sự khó chịu biểu hiện điển hình tại trẻ là hành vi hiếu chiến và thái độ chống đối, rút khỏi sự quan tâm của gia đình hoặc có hành vi phạm pháp.

Cũng như tại người lớn, nguyên do trầm cảm ở trẻ em và thanh thiếu niên chưa được rõ; Nó được cho là kết quả từ các nhân tố di truyền và các nhân tố bên ngoài như lối sống, môi trường…Thăm khám cho bệnh nhân điều trị ở Viện Sức khỏe tâm thần - BV Bạch Mai.

Thăm khám cho bệnh nhân điều trị ở Viện Sức khỏe tâm thần - BV Bạch Mai.

Các thể RLTC ở trẻ em và thanh thiếu niên

Rối loạn tâm trạng hỗn hợp: Rối loạn tâm trạng khởi đầu tại tuổi 6-10. Biểu hiện khó chịu liên tục, rối loạn lo âu. Nhiều trẻ cũng có những rối loạn khác, nhất là là chống đối, phản đối, hiếu động thái quá, nâng cao động giảm chú ý. Các giai đoạn liên tục của hành vi đó là rất khó kiểm soát.

RLTC chủ yếu: RLTC chính yếu lần trước tiên có thể diễn ra ở mọi lứa tuổi nhưng phổ biến hơn là sau tuổi dậy thì. Nguy cơ tái phát cao tại những bệnh nhân có giai đoạn trầm cảm nặng hoặc những người có nhiều giai đoạn trầm cảm. Sự tồn ở của các triệu chứng trầm cảm nhẹ, thậm chí cả trong quy trình thuyên giảm vẫn có thể tái phát.

Biểu hiện một trong những điều sau: Cảm thấy buồn hoặc người khác quan sát thấy nỗi buồn (ví dụ như nước mắt) hoặc khó chịu, mất quan tâm chán nản hoặc không thích thú trong đa số các hoạt động; Giảm cân (ở trẻ em không nâng cao cân như dự kiến), giảm hoặc tăng cảm giác thèm ăn; Mất ngủ hoặc chứng đau nửa đầu; Sự kích động hoặc chậm phát triển tâm thần; Mệt mỏi hoặc mất năng lượng; Giảm khả năng suy nghĩ, tập trung và lựa chọn; Những suy nghĩ liên tục về cái chết hoặc ý tưởng hay kế hoạch tự tử; Cảm giác vô dụng (tức là cảm thấy bị từ chối và không được yêu thương) hoặc tội lỗi quá mức.

Rối loạn khí sắc: Chứng ù tai hoặc tức giận dai dẳng kéo dài trong gần như thời gian trong ngày, thời gian kéo dài 1-2 năm. Biểu hiện: Chán ăn hoặc ăn quá nhiều; Mất ngủ hoặc chứng đau nửa đầu; Giảm năng động hoặc mệt mỏi; Lòng tự trọng thấp; Kém tập trung; Cảm giác tuyệt vọng; Dễ bị lạm dụng chất kích thích, gây nghiện... Các yếu tố gây bệnh có thể bao gồm các yếu tố như bạo lực gia đình, lạm dụng tình dục và tác dụng phụ của thuốc. Các rối loạn tâm thần khác như lo lắng, rối loạn lưỡng cực hoặc tâm thần phân liệt có thể là dấu hiệu ban đầu với trầm cảm nặng.

Lời khuyên của thầy thuốc

Các biện pháp điều trị trầm cảm ở trẻ em và thanh thiếu niên cần kết hợp song song giữa gia đình và nhà trường: thường là thuốc chống trầm cảm cộng với liệu pháp tâm lý. Trẻ em nên được giám sát chặt chẽ lúc trẻ xuất hiện các hành vi mất kiểm soát hoặc kích hoạt hành vi thường xảy ra từ nhẹ tới trung bình. Có thể cần được nhập viện trong các giai đoạn cấp tính, nhất là lúc xác định có ý tưởng và hành vi tự sát.

Trẻ em và thanh thiếu niên nên được điều trị trong ít nhất một năm sau lúc các triệu chứng đã được điều tri tích cực. Thăm khám bệnh đúng định kỳ, trị liệu tâm lý và sử dụng thuốc theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa trong kế hoạch điều trị.

Bên cạnh đó cần được nuôi dưỡng trẻ phát triển tốt, có thể lực và nhân cách tốt, có nghị lực và có ý chí phấn đấu, tránh căng thẳng, chấn thương tâm lý, các trò chơi và sở thích không lành mạnh. Gia đình hòa thuận, thương yêu chăm sóc lẫn nhau. Khi có dấu hiệu bất thường cần phải khám và tư vấn sớm.

PGS.TS. Cao Tiến Đức

0 nhận xét:

Đăng nhận xét

Popular Posts

Blog Archive